Các thể hiện để gây thiên cảm với người Nhật Bản
Người Nhật trong làm việc rất chú trọng những hành
động, tiếp xúc, giao tiếp, cử chỉ chào hỏi, ăn nói với người đối diện. Họ luôn
ý thức được rõ vị trí của mình và thường thẳng thắn đi thẳng vào vấn đề cần
trao đổi
Một điều rất quan trọng trong giao tiếp là cách tạo ra
thiện cảm ban đầu. trong công việc cũng như sinh hoạt, người Nhật không muốn bị
lãng quên. Khi muốn làm quen hoặc giao dịch công tác, bạn nên trao một tấm danh
thiếp để tự giới thiệu mình. Điều này rất quan trọng vì là thông điệp chính
thức giúp hai bên dễ dàng nói chuyện với nhau hơn. Với quỹ thời gian eo hẹp của
cuộc sống công nghiệp, công chức Nhật rất quan tâm vấn đề thời gian nếu có cuộc
hẹn. Hỏ tỏ ra khó chịu khi phải đợi và rất mất cảm tình với người sai hẹn. Nếu
là người đi tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh thì anh ta khó có cơ hội thứ hai
gặp lại.
Khác với những người châu Âu, khi đi du lịch, chỉ
thích xách máy ảnh chụp phong cảnh, người Nhật thích chụp ảnh có hình mình
trong đó. Bởi vậy, khi đi thăm quan một nơi nào đó mà lúc về họ được tặng một
bức ảnh chụp trong tư thế tự nhiên thì không gì bằng. Các thương nhân Nhật
thích chụp hình trong các buổi hội đàm, nhất là dưới hình quốc huy, quốc kỳ và
lãnh tụ của nước sở tại.
Người Nhật rất tôn kính Nhật hoàng nên xin đừng hỏi
Nhật hoàng bao nhiêu tuổi, tính tình ra sao. Họ sẽ nghĩ ngay đến quốc thể bởi
chỉ một câu sai ngữ pháp hay dùng nhầm từ của người tiếp chuyện. Nếu muốn cuộc
tiếp xúc không tẻ nhạt thì bạn nên hướng tới chủ đề không ở đâu kiêng kỵ như
thể thao, thời tiết, kinh tế, chứng khoán.
Những người có quan hệ làm ăn chặt chẽ với người Nhật,
chắc hẳn phải biết ở Nhật Bản các loại quà tặng được bán chạy nhất, nhì thế
giới. Như luật bất thành văn, họ tặng nhau quà trong các ngày lễ tết hoặc khi
có tin vui, thăng quan tiến chức. Việc gói quà tặng là cả một nghệ thuật, bạn
nên nhờ nhân viên bán hàng làm giúp để tránh sai sót. Không nên tặng quà có số
lượng 4 hoặc 9, những vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém
may mắn tại Nhật.
Giao tiếp phi ngôn ngữ trong kinh doanh của người Nhật
VĂN HÓA DOANH NHÂN :
♦ Khoảng cách: Nói chung, trong những tình huống như nhau, người Nhật
thường giữ khoảng cách xa hơn người các nước khác. Ngoại trừ trong những đám
đông mà người ta không thể làm gì được, còn thì người Nhật thường tránh chạm
vào người nhau. Không hề có chuyện ôm chầm hay hôn lên má. Ngay cả Bố mẹ cũng
không ôm chầm lấy những đứa con lớn của mình. Những cử chỉ khác ít nhiều biểu
lộ tình bạn hữu ở phương Tây cũng xa lạ với người Nhật. Ngược lại, người ta có
thể không ưa hay hiểu lầm một số va chạm giữa người cùng phái thường thấy ở
Nhật . Chẳng hạn, không có gì là đồng tính luyến ái cả khi hai nam sinh viên
khoác vai nhau hay hai nữ sinh cùng tuổi nắm tay nhau đi trên đường.
♦ Ánh mắt : Trừ những trường hợp ngoại lệ đặc biệt, người Nhật thường không
nhìn vào mắt nhau. Theo truyền thống, người duy nhất trong tập thể có quyền
nhìn thẳng vào mắt người khác là người đàn ông lớn tuổi nhất hoặc là người có
cấp bậc cao nhất. Sự đường đột nhìn vào mắt người khác là quá bạo dạn và sẽ bị
coi là thất lễ . Ví dụ, những sinh viên mới tốt nghiệp đi xin việc làm đều được
người cố vấn dạy bảo không được nhìn lên quá nút cà vạt của người phỏng vấn .
♦ Sự im lặng : câu nói “ im lặng là vàng” phổ biến ở Nhật và một số nước . Sự im lặng có thể phản ánh nhiều dạng cảm xúc từ tiêu cực như buồn bã hay tức giận cho đến tích cực như thanh thản vui sướng hay thỏa mãn. Sự im lặng trong khi bàn công việc hay thương lượng không có nghĩa gì hơn là người Nhật đang tiếp thu lời nói một cách có trách nhiệm đến nỗi họ cần phải xem xét cẩn thận . Trong khi sự ngập ngừng làm cho người Mỹ khó chịu thì đối với người Nhật, đó là biểu thị cho sự tôn trọng và nhu cầu cần suy nghĩ . Trong khi thương lượng, thường thì người Nhật sẽ không tiếp lời trong khi đang suy nghĩ
♦ Sự im lặng : câu nói “ im lặng là vàng” phổ biến ở Nhật và một số nước . Sự im lặng có thể phản ánh nhiều dạng cảm xúc từ tiêu cực như buồn bã hay tức giận cho đến tích cực như thanh thản vui sướng hay thỏa mãn. Sự im lặng trong khi bàn công việc hay thương lượng không có nghĩa gì hơn là người Nhật đang tiếp thu lời nói một cách có trách nhiệm đến nỗi họ cần phải xem xét cẩn thận . Trong khi sự ngập ngừng làm cho người Mỹ khó chịu thì đối với người Nhật, đó là biểu thị cho sự tôn trọng và nhu cầu cần suy nghĩ . Trong khi thương lượng, thường thì người Nhật sẽ không tiếp lời trong khi đang suy nghĩ
THỂ HIỆN TÁC PHONG QUA CỬ CHỈ :
Người Nhật sử dụng những cử chỉ khi họ có thể thấu
hiểu nhau bằng lời nói nhưng dùng cử chỉ được xem là tế nhị hơn và lịch sự hơn.
Đặc biệt quan trọng là phải biết nhận ra ba cử chỉ của người Nhật biểu lộ sự
sửng sốt là lưỡng lự trong khi thương lượng kinh doanh.
Thứ nhất (chỉ có người đàn ông làm) là xoa gáy, thứ hai là hít hà vào qua
kẽ răng và thứ ba là vỗ bàn tay lên trán . Đôi khi một người Nhật sẽ làm lần
lượt những cử chỉ này trong vòng vài giây . Phản ứng tốt hơn cả là không phản
ứng gì hết . Cứ chờ cho qua hết các cử chỉ đó và chờ cho người Nhật nói. Thời
gian này có thể từ 10 đến 30 giây hoặc có khi hơn thế nữa. Người Nhật không cảm
thấy khó chịu trong thời gian im lặng. Muốn tạo thế cân bằng, bạn nên tập quan
sát một cách thoải mái những cử chỉ lạ.
Những cử chỉ khi cần biết khi giao tiếp với người Nhật :
1. Một ngón tay cái chỉ lên trời có nghĩa là “xếp tôi”.
2. Một vòng tròn bởi ngón tay cái và ngón trỏ nghĩa là “đồng xu”, “tiền”,
hay “số không”.
3. Đầu ngón tay trỏ xoa vào nhau có nghĩa giống như trận đấu kiếm người Nhật thời xưa và biểu thị rằng “hai nhóm hay hay cá nhân đang có bất hòa” .
3. Đầu ngón tay trỏ xoa vào nhau có nghĩa giống như trận đấu kiếm người Nhật thời xưa và biểu thị rằng “hai nhóm hay hay cá nhân đang có bất hòa” .
4. Vòng ngón tay trỏ gần tai nghĩa là “ông ta đang điên tiết” , nhưng ở
Nhật, người ta không lạm dụng những cử chỉ này trừ khi người đang được nói tới
thật sự cuồng nộ .
5. Bàn tay xòe ra úp dọc trên ngực, thường đi kèm với cúi đầu có nghĩa là “xin lỗi” . Cử chỉ này thường được bày tỏ khi ai đó muốn rời khỏi một cuộc gặp mặt .
5. Bàn tay xòe ra úp dọc trên ngực, thường đi kèm với cúi đầu có nghĩa là “xin lỗi” . Cử chỉ này thường được bày tỏ khi ai đó muốn rời khỏi một cuộc gặp mặt .
6. Bàn tay để như trong mục số 5 nhưng phe phẩy trước ngực nghĩa là “không,
cảm ơn “. “tôi không cần ”, hay “khỏi cần” 7. Tay phải duỗi ra, bàn tay vẫy
xuống có nghĩa là “mời đi lối này” – cũng có khi người ta lầm tưởng cử chỉ này
là chào tạm biệt .
8. Giả bộ gảy bàn tính nghĩa là “tôi (hay anh) sẽ tính toán” .
9. Giả bộ viết vào lòng bàn tay trong nhà hàng hay quán rượu nghĩa là “kêu
tính tiền” .
10. Hai ngón tay khều vào lòng bàn tay, với người Nhật là bắt chước việc ăn
Sushi, nghĩa là “ta gác công việc lại đi đến tiệm Sushi nhé”
11. Đưa ngón trỏ lên và chỉ vào (hay đụng vào chóp mũi ) nghĩa là “chính
tôi” hay “tôi sẽ làm” .
--> 4 NGUYÊN TẮC VÀNG KHI GIAO TIẾP <--
Nguồn : Tổng hợp vì cộng đồng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét